Da bò, da bê có vân nổi tự nhiên hoặc dập khuôn — bền, đứng phom, hợp túi và ví dùng hằng ngày.
Da bò Ý
Da bò nguyên tấm từ các xưởng thuộc da Ý, phần lớn ở vùng Tuscany; nhóm gọi theo xuất xứ nên cách thuộc và độ hoàn thiện thay đổi theo lô, thường dày 1,2-2,0mm; còn vân và lỗ chân lông tự nhiên, dải màu rộng gồm cả màu tươi; mềm vừa, dễ gò và dễ xẻ thành nan để đan; bản thuộc thực vật sẽ sậm màu dần và lên nước theo thời gian; dùng cho túi, ví, dây đồng hồ, ốp máy, bìa sổ và phụ kiện nhỏ.
Epsom
Da bê thuộc crôm, vân dập hình học đều dạng chữ thập nhỏ, ép nóng bằng khuôn nên không phải vân tự nhiên; mặt có lớp phủ, nhẹ và đứng phom tốt nhất trong các loại da bê vân, không nhăn gãy nếp; vân dập tán ánh sáng nên khó thấy vết trầy; nước đọng thành hạt, lau khô là sạch; gần như không lên patina, giữ vẻ ban đầu nhiều năm; hợp ví, money clip, card holder, dây lưng, ốp máy và túi cấu trúc; không hợp mẫu mềm rũ.
Caviar
Da bò vân hạt tròn nhỏ, đều và nổi cao hơn vân bê thường nên mặt hơi sạn tay; hạt vân dày làm vết trầy và vết cấn gần như không thấy, mặt cũng ít giãn hơn da mặt lì; nặng hơn da vân thường; mặt mờ, không thấm nước nhanh, lau khăn ẩm là sạch; giữ nét cạnh và nét chỉ khi may món nhỏ; hợp money clip, ví dài, card holder, túi dùng nhiều; không hợp mẫu cần rũ mềm.
Buttero
Da bò thuộc thực vật của xưởng Walpier, vùng Tuscany, Ý; mặt lì mịn, vân tự nhiên, nhuộm aniline nên màu trong và sâu; độ cứng trung bình đến cứng, giữ nếp gấp và giữ cạnh rất tốt, phổ biến ở 1,0-2,2mm; đủ đặc để chạm khắc, gò nổi và đánh bóng cạnh; dễ trầy nhẹ lúc mới nhưng vết trầy chìm dần thành patina bóng sậm; hợp ví, dây lưng, dây đồng hồ, charm chạm khắc, tấm lót bàn.
Togo
Da bê vân hạt nhỏ đều, vân làm nổi bằng cách vần trong lồng quay chứ không dập khuôn nên mỗi tấm một khác; mặt mờ, hơi nhám, không bóng; chắc tay mà không cứng, đứng phom tốt và ít nhăn gãy; vân nhỏ che vết trầy khá tốt; chịu nước ở mức lau kịp thì không sao, không phải da chống nước; mềm dần và lên nước nhẹ theo năm sử dụng; hợp túi dùng hằng ngày, dây lưng, dây đồng hồ, ví.
Nappa
Nappa là cách thuộc và hoàn thiện cho da thật mềm, không phải một dòng da của xưởng cụ thể; làm từ da bê, cừu hoặc dê nguyên tấm không xẻ, thuộc crôm, mặt mịn đều, vân rất nhỏ; mềm rũ, nhẹ, gấp không gãy nếp; bù lại mặt mềm nên dễ lộ trầy và vết cấn, cần lót định hình nếu muốn đứng phom; hợp lót trong, túi mềm, bìa sổ, tấm lót, chi tiết bọc; không hợp phần chịu ma sát nhiều.
Da bò thảo mộc
Da bò thuộc bằng tannin thảo mộc chiết từ gỗ và vỏ cây như hạt dẻ, mimosa, không dùng muối crôm; mộc, ít phủ mặt nên ăn dầu tay và ăn sáng, sậm màu dần thành patina, mỗi món một vẻ; đặc và giữ nếp, đủ chắc để chạm khắc, gò nổi, dập tên và đánh bóng cạnh; nhược điểm là hút nước nhanh, giọt nước để lại vệt sẫm, ẩm lâu thì cứng thớ; hợp ví, dây lưng, bìa sổ, charm khắc, dây đồng hồ.
Swift
Da bê mặt lì, vân tự nhiên rất mịn, không dập vân; nhuộm bán aniline nên màu ăn sâu, lên màu tươi và trong, rất hợp các phối màu sáng; mềm, đàn hồi, dễ gò khối tròn và chi tiết nhỏ; mặt trần nên dễ lộ trầy và vết nước hơn da vân, càng dùng càng bóng nhẹ; nhẹ, không đứng phom bằng da dập vân; hợp ví nhỏ, card holder, money clip, túi mềm cỡ nhỏ.
Box Calf
Da bê mặt lì, thớ đặc và khít, thuộc crôm rồi đánh bóng nhiều lượt nên có ánh bóng sâu; mềm nhưng đứng phom tốt, ít giãn; mặt trần không có vân che nên trầy và vết cấn hiện rõ, bù lại đánh xi và dưỡng là phục hồi được, càng dùng càng lên nước, không nứt; nhuộm aniline, màu sâu; thường 0,9-1,4mm; hợp ví, dây lưng, dây đồng hồ, túi dáng cứng, món cần cạnh sắc nét.
Da bò vân Mill
Da bò được vần lâu trong lồng quay khô để thớ mềm ra và vân tự nổi lên, tiếng nghề gọi là milling; vân to nhỏ không đều, mỗi tấm một kiểu, khác hẳn vân dập khuôn; mềm và rũ hơn cùng loại da chưa vần, bù lại giảm độ đứng phom; vân nổi che vết trầy và vết cấn tốt; tấm da co lại khi vần nên khổ nhỏ hơn; hợp túi mềm, ví, phụ kiện cần mặt da có chiều sâu.
Nubuck
Da bò chà nhẹ mặt cật cho lên lớp lông tơ mịn, khác suede là chà mặt trong, nên nubuck chắc và mịn hơn; sờ như nhung, ấm tay, vẫn thấy lỗ chân lông; mặt hở nên hút nước, hút dầu và bám bụi, giọt nước để lại dấu, cần chải và phun chống nước; vết chà làm xẹp lông tơ nhưng chải lên là gần như hết; hợp túi, ví, chi tiết phối; kỵ mưa và tay ẩm.
Safiano
Saffiano là lớp hoàn thiện chứ không phải giống da: mặt da bê hoặc da bò được ép nóng thành vân chéo đan nhau rồi phủ sáp; kết quả là mặt cứng, đều màu, gần như không thấm nước; vân chéo cộng lớp sáp làm vết trầy khó để lại dấu, lau khăn ẩm là sạch; đứng phom, giữ cạnh và nét chỉ sắc; không lên patina, giữ vẻ ban đầu; hợp ví, bao hộ chiếu, card holder, túi cấu trúc; không hợp mẫu mềm rũ.
Pueblo
Da bò thuộc thực vật của xưởng Badalassi Carlo, vùng Tuscany, Ý; mặt được chà nhám nên khi mới sờ ráp, hơi xù; nhuộm aniline, ăn dầu và ăn sáng rất nhanh nên đổi màu và bóng lên chỉ sau vài tuần dùng, mặt ráp dần thành nhẵn như lụa; màu đậm, có hiệu ứng pull-up khi kéo căng; hút nước, để lại vệt sẫm; hợp ví, card holder, ốp máy, dây đồng hồ; không hợp người muốn giữ nguyên vẻ mới.
Vegtan Mozart
Da bò thuộc thực vật của Ý, bán dưới tên thương mại Mozart; nguyên tấm còn vân tự nhiên, nhuộm xuyên thớ nên cạnh cùng màu mặt; độ cứng trung bình, dày khoảng 1,6-1,8mm nên đủ đứng thành mà vẫn gò và đánh bóng cạnh được; sậm màu dần, lên nước theo thời gian như mọi da thuộc thực vật; hút nước, ướt thì để lại vệt sẫm; hợp bao máy ảnh, ví, bìa sổ, món cần thành đứng.
Minerva Box
Da bò thuộc thực vật của xưởng Badalassi Carlo, vùng Tuscany, Ý, lấy phần vai; vần khô trong lồng quay nóng nên vân hạt tự nổi, mỗi tấm một kiểu, mặt hơi nhăn tự nhiên; mềm hơn da thuộc thực vật mặt phẳng mà vẫn có độ chắc, dày khoảng 2mm; nhuộm xuyên thớ, tẩm dầu mỡ động vật nên ăn dầu tay và sậm màu dần thành patina; hút nước, để lại vệt; hợp túi, ví, bìa sổ, món cần mặt da mềm có chiều sâu.